• slider
  • slider
  • slider
  • slider

Cách xử lý ô nhiễm môi trường nước.

Ô nhiễm nguồn nước là sự suy thoái chất lượng nước được đo bởi các tiêu chuẩn sinh, hóa và vật lý. Sự thay đổi này tác động tiêu cực đến môi trường xung quanh, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân và các loài động vật dưới nước. Vì vậy, cần có những biện pháp khắc phục và xử lý tình trạng ô nhiễm này.

Các dạng ô nhiễm nguồn nước.


Nguồn nước bị ô nhiễm là nguyên nhân dẫn đến nhiều bệnh tật. Theo số liệu nghiên cứu thì ở nước ta hiện nay tỉ lệ người nhiễm giun sán, giun đũa, giun móc... ở Việt Nam được xem là cao nhất thế giới. Những khảo sát gần đây cho thấy gần 100% trẻ em từ 4 - 14 tuổi ở nông thôn nhiễm giun đũa, từ 50 - 80% nhiễm giun móc. Các bệnh viêm da dị ứng, sán lá gan, lá lợn vẫn đang hoành hành. "Vấn nạn" ô nhiễm nguồn nước và môi trường càng trở nên cấp bách hơn, khi các loại bệnh xảy ra, đặc biệt là ỉa chảy, lỵ ngày càng có xu hướng gia tăng. Tùy vào mức độ và thành phần ô nhiễm của nguồn nước người ta có thể chia ra các dạng ô nhiễm sau:
 

1. Nước nhiễm khuẩn

 
ô nhiễm môi trường
Nguồn nước bị nhiễm bẩn trầm trọng.
 
Được hiểu là nguồn nước ô nhiễm bởi các loại sinh vật. Các loại vi khuẩn thường gặp trong nước đó là vi khuẩn E.Coli, khuẩn tả, Samolenla, thương hàn… gây bệnh ỉa chảy, bệnh thương hàn, bệnh tả. Nước nhiễm ký sinh trùng Amibe gây bệnh lỵ amibe, nhiễm ấu trùng giun và ấu trùng sán sẽ gây ra các bệnh về giun (đũa, tóc, móc) và sán.
 

2. Nước nhiễm các chất hóa học.


Các chất hóa học có trong các loại thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật là những chất hóa học nguy hiển, khi nước nhiễm các chất hóa học sẽ gây tồn hại đến sức khỏe con người, gây ức chế cơ quan tạo huyết và ngộ độc thành kinh, có thể là tác nhân gây ung thư và dị tật bẩm sinh (Dioxin).
 
ô nhiễm môi trường
Nguồn nước bị nhiễm hóa học chủ yếu có nguồn gốc từ các nhà máy, khu công nghiệp
 

3. Nước nhiễm các kim loại nặng.


Các hoạt động khai thác khoáng sản thường làm cho nguồn nước xung quanh bị nhiễm các kim loại nặng. Nước nhiễm kim loại nặng gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người tuy nhiên các bệnh này thường tiến triển chậm, khó phát hiện và nguy hiểm. Một vài kim loại nặng nguy hại như Asen, theo y học thì nếu sử dụng nước bị nhiễm Asen quá mức cho phép trong một thời gian dài thì cơ thể bị nhiễm Asen mạn tính. Y học đã liệt kê Asen có thể gây 19 bệnh lý khác nhau. Nhiễm độc mãn tính biểu hiện ở lông, tóc, móng, răng, xương… có thể gây ung thư. Diễn biến bệnh rất từ từ, âm thầm sau 10 – 15 năm mới thành bệnh như suy thận, ung thư. Khi phát hiện thì đã quá muộn ít khả năng cứu chữa.
 
ô nhiễm môi trường
Nước bị nhiễm kim loại nặng chủ yếu ở vùng khai thác khoáng sản

Nước nhiễm chì gây độc cho hệ thần kinh trung ương, hệ thần kinh ngoại biên, tác động lên hệ enzim có nhóm hoạt động chứa hyđro. Người bị nhiễm độc chì sẽ bị rối loạn bộ phận tạo huyết (tuỷ xương).

Nước nhiễm thủy ngân có nhiều dạng do thủy ngân có nhiều đồng vị hóa học. Trong đó, metyl thủy ngân là dạng độc nhất, nó làm phân liệt nhiễm sắc thể và ngăn cản quá trình phân chia tế bào. Thuỷ ngân có khả năng phản ứng với axit amin chứa lưu huỳnh, các hemoglobin, abumin; có khả năng liên kết màng tế bào, làm thay đổi hàm lượng kali, thay đổi cân bằng axit bazơ của các mô, làm thiếu hụt năng lượng cung cấp cho tế bào thần kinh. Trẻ em bị ngộ độc thuỷ ngân sẽ bị phân liệt, co giật không chủ động.
 

Các phương pháp xử lý ô nhiễm nguồn nước 
 

 

1. Xử lý nước bị nhiễm kim loại nặng.


Có nhiều phương pháp để xử lý kim loại nặng trong nước như phương pháp hóa học, hóa lý hay sinh học. Tại các nhà máy nước thải có chứa hàm lượng kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn cho phép rất cần phải xử lý trước khi thải ra môi trường.

Phương pháp kết tủa hóa học: phương pháp này dựa trên phản ứng hóa học giữa chất đưa vào nước với các kim loại cần tách ra, ở độ pH thích hợp sẽ tạo thành hợp chất kết tủa và được tách ra khỏi nước bằng phương pháp lắng. Phương pháp thường được dùng là kết tủa kim loại dưới dạng hydroxit bằng cách trung hòa đơn giản các chất thải axit. Độ pH kết tủa cực đại của tất cả các kim loại không trùng nhau, ta tìm một vùng pH tối ưu, giá trị từ 7 – 10,5 tùy theo giá trị cực tiểu cần tìm để loại bỏ kim loại mà không gây độc hại. Đây là phương pháp dễ dàng sử dụng, rẻ tiền mà hiệu quả cao. Tuy nhiên nó cũng để lại nhưng nhược điểm như tạo ra các bùn thải kim loại, tốn chi phí vận chuyển,...
 
ô nhiễm môi trường
Quy trình xử lý nước bị ô nhiễm hóa học.

Phương pháp hấp thụ: là quá trình hút khí bay hơi hoặc chất hòa tan trong chất thải lỏng lên bề mặt xốp. Vật liệu có khả năng hấp phụ kim loại nặng như: Than hoạt tính, than bùn, vật liệu vô cơ như oxit sắt, oxit mangan, tro xỉ, bằng các vật liệu polymer hóa học hay polymer sinh học. Sau khi thực hiện hấp phụ để xử lý chất độc trong nước nói chung và kim loại nặng nói riêng thì người ta thường tiến hành nhả hấp phụ để hoàn nguyên, tái sinh. 

Phương pháp trao đổi ion: Dựa trên nguyên tắc của phương pháp trao đổi ion dùng ionit là nhựa hữu cơ tổng hợp, các chất cao phân tử có gốc hydrocacbon và các nhóm chức trao đổi ion. Quá trình trao đổi ion được tiến hành trong cột Cationit và Anionit. Các vật liệu nhựa này có thể thay thế được mà không làm thay đổi tính chất vật lý của các chất trong dung dịch và cũng không làm biến mất hoặc hòa tan. Các ion dương hay âm cố định trên các gốc này đẩy ion cùng dấu có trong dung dịch thay đổi số lượng tải toàn bộ có trong chất lỏng trước khi trao đổi.

Phương pháp điện hóa: Tách kim loại bằng cách nhúng các điện cực trong nước thải có chứa kim loại nặng cho dòng điện  1 chiều chạy qua. Ứng dụng sự chênh lệch điện thế giữa hai điện cực kéo dài vào bình điện phân để tạo một dòng điện định hướng. Các cation chuyển dịch về phía catot. Anion chuyển về phía anot.

Phương pháp sinh học: phương pháp sử dụng những vi sinh vật đặc trưng chỉ xuất hiện trong môi trường bị ô nhiễm kim loại nặng và có khả năng tích lũy kim loại nặng trong cơ thể. Các vi sinh vật thường sử dụng như tảo,nấm, vi khuẩn, v.v.. Ngoài ra còn có một số loài thực vật sống trong môi trường ô nhiễm kim loại nặng có khả năng hấp thụ và tách các kim loại nặng độc hại như: Cỏ Vertiver, cải xoong, cây dương xỉ, cây thơm ổi, v.v.. Thực vật có nhiều phản ứng khác nhau đối với sự có mặt của các ion kim loại trong môi trường.
 

2. Xử lý nước thải sinh hoạt.


Nước thải sinh hoạt là nước nước nhiễm bẩn có thể là nhiễm các thành phần hóa học hay nhiễm các thành phần vô cơ. Việc xử lý nước thải sinh hoạt là loại bỏ các tạp chất đó, làm sạch nước và có thể đưa nước vào nguồn tiếp nhận hoặc đưa vào tái sử dụng.
 
ô nhiêm môi trường
Quy trình xử lý nước thải sinh hoạt.

Phương pháp xử lý hóa học: một vài phương pháp thường dùng như: trung hòa, oxy hóa khử, tạo kết tủa hoặc phản ứng phân hủy các hợp chất độc hại. Cơ sở của phương pháp xử lý này là các phản ứng hóa học diễn ra giữa chất ô nhiễm và hóa chất thêm vào, do đó, ưu điểm của phương pháp là có hiệu quả xử lý cao, thường được sử dụng trong các hệ thống xử lý nước khép kín.

Các phương pháp sinh học: bản chất của phương pháp sinh học trong quá trình xử lý nước thải sinh hoạt là sử dụng khả năng sống và hoạt động của các vi sinh vật có ích để phân huỷ các chất hữu cơ và các thành phần ô nhiễm trong nước thải. Các quá trình xử lý sinh học chủ yếu có năm nhóm chính: quá trình hiếu khí, quá trình trung gian anoxic, quá trình kị khí, quá trình kết hợp hiếu khí – trung gian anoxic – kị khí các quá trình hồ. Đối với việc xử lý nước thải sinh hoạt có yêu cầu đầu ra không quá khắt khe đối với chỉ tiêu N và P, quá trình xử lý hiếu khí bằng bùn hoạt tính là quá trình xử lý sinh học thường được ứng dụng nhất.

Phương pháp hóa lý: phương pháp này thường được áp dụng để xử lý nước thải là: keo tụ, tuyển nổi, đông tụ, hấp phụ, trao đổi ion, thấm lọc ngược và siêu lọc,...

Ngoài ra còn nhiều phương pháp với công nghệ hiện đại để có thể xử lý nguồn nước bị ô nhiễm được các nhà hóa học, vật lý nghiên cứu phục vụ cho mục đích khôi phục, cải tạo và làm sống dậy những dòng sông, đảm bảo cung cấp nguồn nước sạch cho người dân.

Đăng nhập - Đăng ký

dien dan rao vat so 1 tphcm